Chào mừng bạn đến với website THPT Trung Phú
Thứ hai, 6/4/2020, 0:0
Lượt đọc: 8066

BÀI 42: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, AN NINH. QUỐC PHÒNG Ở BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC ĐẢO, QUẦN ĐẢO

I.Vùng biển và thềm lục địa của nước ta giàu tài nguyên

1-Nước ta có vùng biển rộng lớn.

-Vùng biển nước ta bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa -> Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng ( trên một triệu Km2 tại biển đông ).

Học sinh xem lại bài 2: khái niệm về các bộ phận của vùng biển của nước ta

2-Nước ta có điều kiện phát triển tổng hợp kinh tế biển.

Học sinh dựa vào Atlat Địa Lí Việt Nam trang 26,27,28,29 để hổ trợ thêm.

a.Nguồn lợi sinh vật:

-Sinh vật biển phong phú, nhiều loài có giá trị kinh tế cao, một số loài quý hiếm, cần bảo vệ đặc biệt.

-Nhiều đặc sản khác: đồi mồi, vích, hải sâm, bào ngư, sò huyết, chim yến ( mặt hàng xuất khẩu giá trị cao ).

b. Tài nguyên khoáng , dầu mỏ và khí tự nhiên:

+ Muối: Biển nước ta là nguồn muối vô tận, cung cấp hơn 900 nghìn tấn muối / năm.

+ Sa khoáng: oxit titan có giá trị xuất khẩu. Cát trắng ( Quảng Ninh, Khánh Hòa ) nguyên liệu quý làm thủy tinh, pha lê.

+ Dầu, khí: với nhiều mỏ tiếp tục được phát hiện, thăm dò và khai thác.

c. Giao thông vận tải biển: có điều kiện để phát triển: gần các tuyến hàng hải quốc tế trên Biển Đông, có nhiều vụng biển kín -> xây dựng các cảng nước sâu. Nhiều cửa sông cũng thuận lợi cho xây dựng cảng.

d. Du lịch biển – đảo:  (Học sinh dựa vào Atlat Địa Lí Việt Nam trang 25)

- Nhiều bãi tắm rộng, phong cảng đẹp, khí hậu tốt -> phát triển du lịch và an dưỡng.

- Nhiều hoạt động du lịch thể thao dưới nước phát triển.

- Du lịch biển  - đảo thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế.

II-Các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế và an ninh vùng biển.

1-Thuộc vùng biển nước ta có hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ.

Học sinh dựa vào Atlat Địa Lí Việt Nam trang 4,5

- Các đảo đông dân : Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Qúy,Phú Quốc.

- Quần đảo: Vân Đồn,  Cô Tô, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Nam Du, Thổ Chu.

- Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa.

- Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa.

- Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quang đảo.

2-Các huyện đảo ở nước ta.   (Học sinh dựa vào Atlat Địa Lí Việt Nam trang 4,5)

Đến năm 2006, nước ta có các huyện đảo sau:

- Huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cô Tô ( tỉnh Quảng Ninh )

- Huyện đảo Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vỹ ( thành phố Hải Phòng )

- Huyện đảo Cồn Cỏ ( tỉnh Quảng Trị )

- Huyện đảo Hoàng Sa ( thành phố Đà Nẵng )

- Huyện đảo Lý Sơn ( tỉnh Quãng Ngãi )

- Huyện đảo Trường Sa ( tỉnh Khánh Hòa )

- Huyện đảo Phú Qúy ( tỉnh Bình Thuận )

- Huyện đảo Côn Đảo ( tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu )

- Huyện đảo Kiên Hải và huyện đảo Phú Quốc ( tỉnh Kiên Giang )

III –Khai thác tổng hợp các tài nguyên vùng biển và hải đảo.

1.Tại sao phải khai thác tổng hợp.

-Hoạt động kinh tế biển rất đa dạng : đánh bắt và nuôi trồng hải sản, khai thác các đặc sản, khai thác khoáng sản trong nước biển và trong lòng đất, du lịch biển và giao thông vận tải biển. Chỉ có khai thác tổng hợp mới đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.

- Môi trường biển là không thể chia cắt được. Bởi vậy, một vùng biển bị ô nhiễm sẽ gây thiệt hại cho cả vùng bờ biển, cho các vùng nước và đảo xung quanh.

- Môi trường đảo, có diện tích nhỏ và biệt lập, không giống như trên đất liền nên rất nhạy cảm trước tác động của con người.

2-Khai thác tài nguyên sinh vật biển và hải đảo.

-Tránh khai thác quá mức nguồn lợi ven bờ, các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, cấm sử dụng các phương tiện đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi.

- Việc phát triển đánh bắt xa bờ sẽ giúp khai thác tốt hơn nguồn lợi hải sản, bảo vệ vùng trời, vùng biển và vùng thềm lục địa của nước ta.

 3-Khai thác tài nguyên khoáng sản. 

- Làm muối là nghề truyền thống, phát triển ở nhiều địa phương của nước ta ( nhất là Duyên Hải Nam Trung Bộ ).

- Thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng thềm lục địa đã được đẩy mạnh cùng với việc mở rộng các dự án liên doanh với nước ngoài.

+ Việc khai thác các mỏ khí thiên nhiên và thu hồi khí đồng hành vào đất liền -> phát triển công nghiệp khí hóa lỏng, phân bón, sản xuất điện.

+ Trong tương lai, các nhà máy lọc, hóa dầu được xây dựng và đi vào hoạt động sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế của công nghiệp dầu khí.

+ Tránh ô nhiễm môi trường trong thăm dò, khai thác, vẩn chuyển và chế biến dầu khí.

4-Phát triển du lịch biển.

- Cùng với sự phát triển khá mạnh của ngành du lịch, các trung tâm du lịch biển đã được nâng cấp, nhiều bãi biển mới được đưa vào khai thác.

- Các khu du lịch Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn (ở Quảng Ninh và Hải Phòng), Nha Trang ( Khánh Hòa ), Vũng Tàu ( Bà Rịa – Vũng Tàu )…

5-Giao thông vận tải biển.

-Để tạo thế mở cửa cho các tỉnh duyên hải và cho nền kinh tế cả nước:

+ Hàng loạt cảng hàng hóa lớn đã được cải tạo, nâng cấp như: cụm cảng Saigon, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng…

+ Một số cảng nước sâu đã được xây dựng: cảng Cái Lân ( Quảng Ninh ), Nghi Sơn ( Thanh Hóa), Vũng Ánh ( Hà Tỉnh ), Dung Quất ( Quảng Ngãi ) Vũng Tàu ( Bà Rịa – Vũng Tàu )…

+ Hàng loạt cảng nhỏ hơn đã được xây dựng. Hầu hết các tỉnh ven biển đều có cảng.

- Các tuyến vận tải hàng hóa và hành khách thường xuyên đã nối liền các đảo với đất liền góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở các tuyến đảo.

IV-Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng trong  giải quyết các vấn đề biển đảo và thềm lục địa.

-Biển Đông là biển chung của Việt Nam và nhiều nước láng giềng. Vì vậy, việc tăng cường đối thoại, hợp tác giữa Việt Nam và các nước sẽ tạo ra sự phát triển ổn định trong khu vực, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước và nhân dân, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

- Việt Nam có nhiều lợi ích ở Biển Đông. Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam đều có bổn phận bảo vệ vùng biển và hải đảo của đất nước.                                                                                                              

Tác giả: MAI TRÚC LINH

Công ty cổ phần phần mềm Quảng Ích

163